Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Thơ Anna Akhmatova - Phần 7



115. CƠ THỂ TÔI THAY ĐỔI LẠ LÙNG SAO

Cơ thể tôi thay đổi lạ lùng sao
Còn cái miệng mệt rã rời nhợt tái
Tôi đâu muốn cái chết buồn như vậy
Thời hạn này tôi có định trước đâu.

Tôi ngỡ rằng mây đen với mây đen
Xô đẩy nhau trên bầu trời cao vút
Và ánh lửa đang bay trong tia chớp
Giọng nói mừng vui mạnh mẽ vô cùng
Như xuống đây thăm tôi những thiên thần.
1913

Как страшно изменилось тело

Как страшно изменилось тело,
Как рот измученный поблек!
Я смерти не такой хотела,
Не этот назначала срок.

Казалось мне, что туча с тучей
Сшибется где-то в вышине
И молнии огонь летучий
И голос радости могучей,
Как Ангелы, сойдут ко мне.
1913


116. EM KHÔNG BUÔNG RÈM CỬA SỔ

Em không buông rèm cửa sổ
Anh hãy nhìn thẳng vào kia.
Vì thế mà em bây giờ vui vẻ
Rằng anh không thể ra về.
Hãy gọi em là kẻ ngoại tình
Cái ác đã từng hành hạ:
Em đã từng làm anh mất ngủ
Đã từng là nỗi buồn nhớ của anh.
1916

Я окошка не завесила

Я окошка не завесила,
Прямо в горницу гляди.
Оттого мне нынче весело,
Что не можешь ты уйти.
Называй же беззаконницей,
Надо мной глумись со зла:
Я была твоей бессонницей,
Я тоской твоей была.
1916


117. CUỘC GẶP NÀY

Cuộc gặp này không ca ngợi ai đâu
Thiếu bài ca nỗi buồn chìm lắng xuống
Đã đến đây một mùa hè mát lạnh
Tựa hồ như cuộc sống mới bắt đầu.

Bầu trời ngỡ như làm bằng đá
Chạm vào ngọn lửa màu vàng
Cần thiết hơn cả thứ rất cần
Với em, một lời về anh đó.

Anh như giọt sương trên cỏ
Anh hãy làm cho sống dậy hồn em
Không vì đam mê hay tiêu khiển đâu anh
Vì tình yêu lớn lao nơi trần thế.
1916

Эта встреча никем не воспета

Эта встреча никем не воспета,
И без песен печаль улеглась.
Наступило прохладное лето,
Словно новая жизнь началась.

Сводом каменным кажется небо,
Уязвленное желтым огнем,
И нужнее насущного хлеба
Мне единое слово о нем.

Ты, росой окропляющий травы,
Вестью душу мою оживи, -
Не для страсти, не для забавы,
Для великой земной любви.
1916
  



118. CHỈ CÒN LẠI MÌNH TÔI

Chỉ còn lại một mình tôi
Đếm những ngày trống vắng
Ơi những người mà tôi coi là bạn
Ơi những con thiên nga của tôi ơi!

Bằng bài ca tôi không gọi các người
Tôi không tin vào nước mắt
Nhưng buổi chiều, giờ buồn bã nhất
Trong lời nguyện cầu tôi nhớ đến thôi.

Gặp mũi tên cái chết
Ngã xuống một người trong số các anh
Một người khác như con quạ màu đen
Sẽ yêu tôi tha thiết.

Nhưng chỉ một lần trong năm
Khi những tảng băng tan hết
Và khi đó trong khu vườn
Tôi đứng bên dòng nước sạch.

Và tôi nghe tiếng vỗ đôi cánh rộng
Trên mặt nước màu xanh.
Nhưng tôi không biết được rằng
Ai là người nắp quan tài mở sẵn.
1916

И вот одна осталась я

И вот одна осталась я
Считать пустые дни.
О вольные мои друзья,
О лебеди мои!

И песней я не скличу вас,
Слезами не верну,
Но вечером в печальный час
В молитве помяну.

Настигнут смертною стрелой,
Один из вас упал,
И черным вороном другой,
Меня целуя, стал.

Но так бывает раз в году,
Когда растает лед,
В Екатеринином саду
Стою у чистых вод

И слышу плеск широких крыл
Над гладью голубой.
Не знаю, кто окно раскрыл
В темнице гробовой.
1917


119. VƯỜN BÊN BIỂN

Vườn bên biển, con đường đang dần tối
Những cây đèn toả ánh sáng màu vàng
Em rất bình tĩnh. Chỉ một điều, không cần
Đi nói chuyện với em về người ấy.

Anh sẽ là bạn em, thuỷ chung, dịu dàng, thắm thiết
Sẽ hôn nhau, sẽ dan díu, sẽ già đi
Và những mảnh trăng non bay trên đầu ta
Giống như là những ngôi sao tuyết.
1914

Чернеет дорога приморского сада

Чернеет дорога приморского сада,
Желты и свежи фонари.
Я очень спокойная. Только не надо
Со мною о нем говорить.

Ты милый и верный, мы будем друзьями...
Гулять, целоваться, стареть...
И легкие месяцы будут над нами,
Как снежные звезды, лететь.
1914
An alley turns black in the littoral garden,
The yellow lamps are fresh-free.
I am very quiet, I am no more ardent,
But don't speak about him with me.
You are true and tender; as friends we’ll be dwelling,
Have walks, kiss each other, get old.
And weightless young moons will be over us sailing
Like flakes of snow-stars in the cold.


120. SAO ANH CÓ THỂ NHÌN XUỐNG SÔNG

Sao anh có thể nhìn xuống sông
Sao anh dám bước lên cầu như thế?..
Em mang tiếng hay buồn, không vô cớ
Từ cái ngày em gặp gỡ với anh.
Những đôi cánh của những thiên thần đen
Phiên xét xử sắp tới đây lần cuối
Và đống lửa cây mâm xôi đang cháy
Tựa hồ như trong tuyết, nở hoa hồng.
1914

Как ты можешь смотреть на Неву

Как ты можешь смотреть на Неву,
Как ты смеешь всходить на мосты?..
Я недаром печальной слыву
С той поры, как привиделся ты.
Черных ангелов крылья остры,
Скоро будет последний суд.
И малиновые костры,
Словно розы, в снегу растут.
1914


121.LY BIỆT

Con đường chiều thoai thoải
Nghiêng xuống trước mặt em.
Hôm qua người yêu dấu
Còn năn nỉ: “Đừng quên”.

Thế mà giờ chỉ gió
Tiếng kêu trẻ chăn cừu
Những cây tùng nức nở
Bên dòng nước trong veo.
1914

Разлука

Вечерний и наклонный
Передо мною путь.
Вчера еще, влюбленный,
Молил: "Не позабудь".

А нынче только ветры
Да крики пастухов,
Взволнованные кедры
У чистых родников.
1914


122. CHÀO! ANH CÓ NGHE RA TIẾNG XÀO XẠC

Chào! Anh có nghe ra tiếng xào xạc
bên phải cái bàn?
Những dòng này anh chưa viết hết
Em đã gửi đến cho anh.
Chẳng lẽ anh lại giận em
Giống như lần trước
Anh nói rằng những bàn tay không thấy được
Những bàn tay và đôi mắt của em.
Ở nơi anh trong sáng và giản đơn
Anh dừng kéo em về phía đó
Nơi ngột ngạt dưới vòm cầu mở
Dòng nước bẩn sẽ lạnh hơn.
10-1913

Здравствуй! Легкий шелест слышишь

Здравствуй! Легкий шелест слышишь
Справа от стола?
Этих строчек не допишешь -
Я к тебе пришла.
Неужели ты обидишь
Так, как в прошлый раз, -
Говоришь, что рук не видишь,
Рук моих и глаз.
У тебя светло и просто.
Не гони меня туда,
Где под душным сводом моста
Стынет грязная вода.
1913
  


123. TRONG TIM NHẠT MỜ KÝ ỨC VẦNG DƯƠNG

Trong tim nhạt mờ kí ức vầng dương
Hoa cỏ vàng hơn trước
Ngọn gió thổi lên những bông tuyết đầu đông
Dường như rất khó nhọc.

Trong những dòng kênh hẹp đã thôi rì rào
Nước đã thành băng giá
Ở đây sẽ không điều gì xảy ra được nữa
Không bao giờ đâu!

Cây dương liễu giữa trời xoè rộng
Thành cánh quạt mong manh
Sẽ tốt hơn, nếu mà em đã chẳng
Từng là vợ của anh.

Trong tim nhạt mờ kí ức vầng dương
Sẽ chỉ còn bóng tối?
Có thể lắm! Sau đêm này sẽ tới
Mùa đông.
1911

Память о солнце в сердце слабеет

Память о солнце в сердце слабеет,
Желтей трава,
Ветер снежинками ранними веет
Едва-едва.

В узких каналах уже не струится -
Стынет вода,
Здесь никогда ничего не случится.-
О, никогда!

Ива на небе кустом распластала
Веер сквозной.
Может быть, лучше, что я не стала
Вашей женой.

Память о солнце в сердце слабеет.
Что это? Тьма?
Может быть! За ночь прийти успеет
Зима.
1911


124. VÀ CON TIM ĐÃ THÔI ĐỒNG VỌNG

Tưởng nhớ Nikolai Punin

Và con tim đã thôi đồng vọng
Với giọng nói của em, vui cũng như buồn.
Hết thật rồi!… Thơ đi vào đêm vắng
Nơi ấy muôn đời đã chẳng còn anh.
1953
__________
* Bài thơ tưởng nhớ Nikolai Nikolaevich Punin, người đã chết trong trại Vorkuta tháng 8 năm 1953.

И сердце то уже не отзовется

Памяти Н. П.

И сердце то уже не отзовется
На голос мой, ликуя и скорбя.
Все кончено... И песнь моя несется
В пустую ночь, где больше нет тебя.
1953


125. ANH CHỌN CHỖ NGỒI TRONG GÓC

Anh chọn chỗ ngồi trong góc
Bên trái, nơi hướng vào đêm
Để thả con chim – mối u sầu của em
Vào đêm vắng ngắt.

Anh yêu! tay anh không run rẩy
Và em chờ đợi không lâu
Con chim của em bay đi – mối u sầu
Đậu lên cành cây và bắt đầu hót đấy.

Để người ta bình tĩnh trong nhà mình
Anh mở cửa sổ toang ra và nói:
“Lời không hiểu nhưng giọng nói rất quen”
Còn đôi mắt nhắm lại.
1914

Углем наметил на левом боку

Углем наметил на левом боку
Место, куда стрелять,
Чтоб выпустить птицу - мою тоску
В пустынную ночь опять.

Милый! не дрогнет твоя рука,
И мне недолго терпеть.
Вылетит птица - моя тоска,
Сядет на ветку и станет петь.

Чтоб тот, кто спокоен в своем дому,
Раскрывши окно, сказал:
"Голос знакомый, а слов не пойму", -
И опустил глаза.
1914

  
126. TA KHÔNG CÙNG NHỮNG KẺ

Ta không cùng những kẻ
Bỏ quê hương, mặc cắn xé quân thù
Ta không nghe lời tâng bốc của họ
Và không trao cho họ những bài thơ.

Nhưng muôn thuở thương kẻ đày phát vãng
Như kẻ tù nhân, như kẻ tật nguyền.
Con đường tối tăm của người du lãng
Mùi bánh mì, ngải cứu lạ bốc lên.

Còn ở đây, trong khói đám cháy này
Ta phí hoài chút tuổi xuân còn lại
Nhưng chưa từng một đòn đau nào
Nhận về mình ta từ chối.

Ta biết, sự đánh giá sau này, dù chậm
Sẽ thanh minh cho từng phút, từng giờ
Nhưng trên đời không có người đơn giản
Không nước mắt và kiêu hãnh hơn ta.
1922

Не с теми я, кто бросил землю

Не с теми я, кто бросил землю
На растерзание врагам.
Их грубой лести я не внемлю,
Им песен я своих не дам.

Но вечно жалок мне изгнанник,
Как заключенный, как больной.
Темна твоя дорога, странник,
Полынью пахнет хлеб чужой.

А здесь, в глухом чаду пожара
Остаток юности губя,
Мы ни единого удара
Не отклонили от себя.

И знаем, что в оценке поздней
Оправдан будет каждый час...
Но в мире нет людей бесслезней,
Надменнее и проще нас.
1922
  


127. NGÀY TUYÊN BỐ CHIẾN TRANH

Sống – theo ý muốn, tự do
Chết – cùng quê hương, xứ sở
Cánh đồng Volkovo
Một màu vàng rơm rạ.
1939

Жить - так на воле

Жить - так на воле,
Умирать - так дома.
Волково поле,
Желтая солома.

(День объявления войны),
<1939>


128. VÀ CON TIM ĐÃ KHÔNG CÓ GÌ CẦN

Và con tim đã không có gì cần
Khi tôi uống cái nóng này bỏng rát
Khối không khí khổng lồ “Ônhêgin
Như đám mây, hiện ra trước mặt.
1962

И было сердцу ничего не надо

И было сердцу ничего не надо,
Когда пила я этот жгучий зной...
"Онегина" воздушная громада,
Как облако, стояла надо мной.
1962


129. PETROGRAD 1919

Và ta đã quên đến muôn đời
Khi ở lại trong thủ đô hoang dã
Những hồ nước, những thảo nguyên, thành phố
Những bình minh ngời chói của quê hương.
Trong vòng máu lửa, cả ngày, cả đêm
Vẫn tuôn ra sự hành hình khắc nghiệt…
Và cho ta chẳng còn ai muốn giúp
Vì một điều rằng ta ở lại nhà
Vì rằng ta yêu thành phố của ta
Mà không phải là tự do bay bổng
Ta gìn giữ cho mình
Lửa và nước, và lâu đài, cung điện.
Rồi một thời sẽ đến
Ngọn gió chết chóc làm buốt giá con tim
Nhưng với ta – thành phố của Pi-ốt thiêng liêng
Sẽ mãi là một tượng đài kỉ niệm.
1919

Петроград, 1919

И мы забыли навсегда,
Заключены в столице дикой,
Озера, степи, города
И зори родины великой.
В кругу кровавом день и ночь
Долит жестокая истома...
Никто нам не хотел помочь
За то, что мы остались дома,
За то, что, город свой любя,
А не крылатую свободу,
Мы сохранили для себя
Его дворцы, огонь и воду.

Иная близится пора,
Уж ветер смерти сердце студит,
Но нам священный град Петра
Невольным памятником будет.
1919
  



130. LỜI THỀ

Người con gái hôm nay vĩnh biệt người thương
Sẽ biến nỗi đau thương của mình thành sức mạnh
Ta thề với cháu con, với những nấm mồ yên lặng
Rằng không ai bắt được ta quì gối đầu hàng!
7-1941

Клятва

И та, что сегодня прощается с милым,-
Пусть боль свою в силу она переплавит.
Мы детям клянемся, клянемся могилам,
Что нас покориться никто не заставит!
1941


131. LENIGRAD THÁNG 3 NĂM 1941

Cardan Solaire* trên nhà Mesinkov
Con tàu đi qua ngọn sóng dâng cao
Trên đời này có điều gì quen thuộc
Hơn ánh lửa máy tàu và ngọn sóng lao xao!
Như nước kiềm, con đường tối mịt
Bầy chim non lên dây điện đậu vào.
Trong những lần dạo chơi từng quen thuộc
Vị mặn mòi thì cũng chẳng sao.
____________
*Đồng hồ mặt trời (tiếng Pháp)
1941

Ленинград в марте 1941 года

Cardan solaire* на Меньшиковом доме.
Подняв волну, проходит пароход.
О, есть ли что на свете мне знакомей,
Чем шпилей блеск и отблеск этих вод!
Как щелочка, чернеет переулок.
Садятся воробьи на провода.
У наизусть затверженных прогулок
Соленый привкус — тоже не беда.
1941


132. TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI BẠN

Trong ngày Chiến Thắng màn sương nhẹ mỏng
Khi bình minh với khuôn mặt đ bừng
Như người goá phụmùa xuân muộn màng
Bên ngôi mộ vô danh đầu cúi xuống.
Rồi đứng lên vội vàng xuân đã chẳng
Đ còn vuốt ve hoa cỏ, mầm cây
Đặt com bướm xuống đất từ trên vai
Và cây bồ công anh đầu mùa xoè rộng
1945

Памяти друга

И в День Победы, нежный и туманный,
Когда заря, как зарево, красна,
Вдовою у могилы безымянной
Хлопочет запоздалая весна.
Она с колен подняться не спешит,
Дохнет на почку, и траву погладит,
И бабочку с плеча на землю ссадит,
И первый одуванчик распушит.
1945


133. CHIẾN THẮNG

1
Bắt đầu sự nghiệp vinh quang của ta
Trong tiếng ồn ào, trong bụi tuyết
Và cơ thể vô cùng mỏi mệt
Của đất đai bởi nhục mạ quân thù.
Những cây bạch dương thân yêu hướng về ta
Giương lá cành và đợi chờ, lên tiếng
Những ông già Tuyết oai hùng, cường tráng
Đã xếp thành đội ngũ, bước theo ta.

2
Trên đập chắn sóng, ngọn đèn biển đầu tiên
Bừng sáng lên gọi theo đèn biển khác
Người thuỷ thủ bỏ mũ ra và khóc
Rằng đã từng bơi trong biển chết ngày nào
Dọc theo cái chết, hướng cái chết đi vào.

3
Chiến Thắng đang đứng bên cửa nhà ta…
Như người khách mong chờ ta đón gặp
Để những người phụ nữ sẽ giơ cao
Những đứa con thoát từ nghìn cái chết
Ta trả lời cái chết đợi chờ lâu.
1942-1945

Победа

1
Славно начато славное дело
В грозном грохоте, в снежной пыли,
Где томится пречистое тело
Оскверненной врагами земли.
К нам оттуда родные березы
Тянут ветки и ждут и зовут,
И могучие деды-морозы
С нами сомкнутым строем идут.

2
Вспыхнул над молом первый маяк,
Других маяков предтеча,—
Заплакал и шапку снял моряк,
Что плавал в набитых смертью морях
Вдоль смерти и смерти навстречу.

3
Победа у наших стоит дверей...
Как гостью желанную встретим?
Пусть женщины выше поднимут детей,
Спасенных от тысячи тысяч смертей,—
Так мы долгожданной ответим.
1942-1945


134. TỪ TRÊN MÁY BAY

1
Một trăm dặm, một trăm vexta
Một trăm ki-lô-mét
Đất đai nằm, cây vũ mâu xào xạc
Và đen thẫm rừng bá hương
Có vẻ như đấy là lần đầu tiên
Tôi ngắm nhìn Tổ Quốc
Tất cả của tôitôi biết rằng:
Tất cả của tôi, cả hồn lẫn xác.

2
Tôi đánh dấu ngày này bằng hòn đá trắng
Khi tôi hát về Chiến Thắng
Khi Thắng lợi đón chào tôi
Tôi bay lên, tôi vượt quá mặt trời.

3
Và xào xạc dưới chân hoa cỏ
Của sân bay mùa xuân
Những ngôi nhà - chẳng lẽ nhà như thế!
Tất cả như mới mẻ thân quen
Và vẻ mỏi mệt trong tim
Và đầu óc ngọt ngào choáng váng…
Trong tiếng sấm đầu xuân
Mátxcơva – người Chiến Thắng!
5-1944

С самолета

1
На сотни верст, на сотни миль,
На сотни километров
Лежала соль, шумел ковыль,
Чернели рощи кедров.
Как в первый раз я на нее,
На Родину, глядела.
Я знала: это все мое —
Душа моя и тело.

2
Белым камнем тот день отмечу,
Когда я о победе пела,
Когда я победе навстречу,
Обгоняя солнце, летела.

3
И весеннего аэродрома
Шелестит под ногой трава.
Дома, дома — ужели дома!
Как все ново и как знакомо,
И такая в сердце истома,
Сладко кружится голова...
В свежем грохоте майского грома —
Победительница Москва!
Май 1944


135. NĂM NĂM TRÔI QUA

Năm năm trôi qua
Những vết thương chiến tranh lành lặn
Đất nước tôi, những cánh đồng Nga
Lại đầy ắp giá băng, tĩnh lặng.

Và những ngọn đèn biển xuyên qua bóng đêm
Hãy cháy lên chỉ đường cho thuỷ thủ
Những đôi mắt bạn bè như ngọn lửa
Từ biển xa xôi đang dõi mắt nhìn.

Nơi xưa xe tăng rú gầmgiờ máy kéo hoà bình
Vườn cây xanhnơi xưa là đám cháy
Trên những con đường ngày xưa lầy lội
Giờ xe hơi vun vút lao nhanh.

Nơi ngày xưa những cây thông gãy cành
Vì đạn bom – giờ rừng thông xanh ngắt
Nơi xưa con tim khổ đau vì xa cách
Giờ đưa nôi, bà mẹ hát ru con.

Đất nước tự do và sẽ hùng mạnh hơn
Đất nước tôi! Nhưng xin muôn đời, mãi mãi
Ký ức về lửa chiến tranh thiêu trụi
Sống trong lòng, trong trí nhớ nhân dân.

Cho những thế hệ sau trong cuộc sống hoà bình
Từ biển Caxpiên đến vùng bắc cực
Từ những xóm làng thiêu trụi trong ký ức
Sẽ mọc lên những thành phố mới đẹp xinh.
1950

Прошло пять лет,— и залечила раны

Прошло пять лет,— и залечила раны,
Жестокой нанесенные войной,
Страна моя, и русские поляны
Опять полны студеной тишиной.

И маяки сквозь мрак приморской ночи,
Путь указуя моряку, горят.
На их огонь, как в дружеские очи,
Далеко с моря моряки глядят.

Где танк гремел — там ныне мирный трактор,
Где выл пожар — благоухает сад,
И по изрытому когда-то тракту
Автомобили легкие летят.

Где елей искалеченные руки
Взывали к мщенью — зеленеет ель,
И там, где сердце ныло от разлуки,—
Там мать поет, качая колыбель.

Ты стала вновь могучей и свободной,
Страна моя! Но живы навсегда
В сокровищнице памяти народной
Войной испепеленные года.

Для мирной жизни юных поколений,
От Каспия и до полярных льдов,
Как памятники выжженных селений,
Встают громады новых городов.
Май 1950 




136. BÀI HÁT RU

Nơi xa xôi miền rừng núi
Bên những dòng sông xanh
Có người tiều phu đốn củi
Sống với những đứa con mình.

Đứa con út vô cùng nhỏ bé
Như mẹ hát ru con
Hãy ngủ ngoan, con trai của mẹ
Mẹ kém cỏi vô cùng.

Tin về cha hiếm khi bay đến
Với hai mẹ con ta
Và cây thập ác màu trắng
Người ta dành sẵn cho cha.

Từng khổ đau, sẽ còn đau khổ nữa
Mẹ cháy lên đến cùng
Lạy Ngài Êgori thần thánh
Sẽ bảo vệ cha con.
1915

Колыбельная

Далеко в лесу огромном,
Возле синих рек,
Жил с детьми в избушке темной
Бедный дровосек.

Младший сын был ростом с пальчик,-
Как тебя унять,
Спи, мой тихий, спи, мой мальчик,
Я дурная мать.

Долетают редко вести
К нашему крыльцу,
Подарили белый крестик
Твоему отцу.

Было горе, будет горе,
Горю нет конца,
Да хранит святой Егорий
Твоего отца.
1915


137. TA BƯỚC ĐI TẤT CẢ ĐÃ KHÔNG CẦN

Ta bước đi, tất cả đã không cần
Khi người bạn đườngchỉ là chiếc bóng
Và ngọn gió từ khu vườn hoang vắng
Và bậc thang mộ chí dưới chân.
1964

А я иду, где ничего не надо,
Где самый милый спутник — только тень,
И веет ветер из глухого сада,
А под ногой могильная ступень.
1964


138. BĂNG GIÁ ĐANG PHỦ MỜ TRÊN MẶT KÍNH

Băng giá đang phủ mờ trên mặt kính
Tiếng đồng hồ chậm rãi: “Chớ nhát gan!”
Có vẻ như ai đấy đang đến gần
Tôi sợ hãi như người đang chết điếng.

Như thần tượng, tôi cầu xin cánh cửa
Hãy đừng cho điều tai hoạ vào đây!”
Ai tru tréo sau tường, như thú dữ
Ai đang giấu mình sau những lùm cây?
1945

На стеклах нарастает лед

На стеклах нарастает лед,
Часы твердят: «Не трусь!»
Услышать, что ко мне идет,
И мертвой я боюсь.

Как идола, молю я дверь;
«Не пропускай беду!»
Кто воет за стеной, как зверь,
Кто прячется в саду?
1945


139. TẠI VÌ SAO CÁC NGƯỜI ĐẦU ĐỘC NƯỚC

Tại vì sao các ngươi đầu độc nước
Và vấy bẩn lên những bánh mì?
Niềm tự do cuối cùng ta có được
Các ngươi biến thành một gian phi?

Tại vì ta đã không từng nhạo báng
Cái chết đắng cay của bạn bè chăng?
Tại vì ta vẫn trung thành đứng vững
Vẫn thuỷ chung với tổ quốc đau buồn?

Thôi đành thế! Không hành hình, đao phủ
Mặt đất này không đáng có nhà thơ.
Hãy cho ta mặc áo bào sám lễ
Ta ra đi với ngọn nến và tru.
1935

Зачем вы отравили воду

Зачем вы отравили воду
И с грязью мой смешали хлеб?
Зачем последнюю свободу
Вы превращаете в вертеп?

За то, что я не издевалась
Над горькой гибелью друзей?
За то, что я верна осталась
Печальной родине моей?

Пусть так. Без палача и плахи
Поэту на земле не быть.
Нам покаянные рубахи,
Нам со свечой идти и выть.
1935


140. LỜI CẦU NGUYỆN

Hãy cho ta những tháng năm cay đắng
Mất ngủ, bồi hồi, ngạt thở, xót xa
Cứ lấy đi cả đứa con, người bạn
Quà tặng bí huyền của những bài ca.

Ta nguyện cầu trong Thánh lễ linh thiêng
Sau biết bao những đêm ngày mệt mỏi
Để mây đen trên nước Nga tăm tối
Thành mây hồng trong ánh sáng quang vinh.
1915

Молитва

Дай мне горькие годы недуга,
Задыханья, бессонницу, жар,
Отыми и ребенка, и друга,
И таинственный песенный дар —

Так молюсь за Твоей литургией
После стольких томительных дней,
Чтобы туча над темной Россией
Стала облаком в славе лучей
1915



141. ANH ĐÃ KHÔNG CÒN NỮA

Anh đã không còn nữa giữa trần gian
Anh đã không đứng lên từ tuyết trắng
Hai mươi tám nhát gươm
Và năm phát đạn.

Áo liệm đau buồn
Tôi may cho người bạn đời yêu dấu
Đất Nga ơi, sao người yêu máu
Sao người yêu máu vậy, đất quê hương.
16-8-1921

Не бывать тебе в живых

Не бывать тебе в живых,
Со снегу не встать.
Двадцать восемь штыковых,
Огнестрельных пять.
Горькую обновушку
Другу шила я.
Любит, любит кровушку
Русская земля.
1921