Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Thơ Anna Akhmatova - Phần 1


Anna Akhmatova (tiếng Nga: Анна Ахматова, tên thật: Анна Андреевна Горенко Anna Andreevna Gorenko, 23 tháng 6 năm 1889 — 5 tháng 3 năm 1966) - nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học, dịch giả Nga, một trong những gương mặt xuất sắc nhất của thơ ca Nga thế kỉ 20. Nhà thơ Yevgeny Yevtushenko gọi Anna Akhmatova là “đêm trắng của thi ca Nga”.

Tiểu sử:
Anna Andreevna Gorenko sinh ở Bolshoy Fontan, Odessa (nay là Ukraina). Năm 1890 gia đình chuyển về Tsarskoe Selo, Sankt-Peterburg. Năm 1905 bố mẹ chia tay nhau, các con theo mẹ đến thành phố Evpatoria ở phía nam. Bà học luật ở Kiev năm 1906-1907 và học văn học và lịch sử ở Sankt-Peterburg năm 1908-1910. Tháng 4 năm 1910 bà lấy chồng là nhà thơ Nikolai Gumilyov sau đó đi du lịch sang Pháp, Ý.

Bà viết thơ đầu tiên năm 11 tuổi in ở tạp chí Apollo nhưng bố không cho lấy họ Gorenko nên đã lấy họ thời trẻ của bà ngoại là Akhmatova. Năm 1912 Anna Akhmatova in tập thơ đầu tiên Buổi chiều (Вечер) được giới phê bình chú ý; năm 1914 bà in tập thơ thứ hai Tràng hạt (Чётки). Những nét chính của thơ Anna Akhmatova là sự hiểu biết tinh tế của những cung bậc tình cảm, sự suy ngẫm về những bi kịch nửa đầu thế kỉ 20. Trường ca Khúc tưởng niệm (Реквием, 1935-1940 in năm 1976) viết về những nạn nhân của cuộc trấn áp trong thập niên 1930. Đỉnh cao trong sáng tác của bà là Trường ca không có nhân vật (Поэмa без героя, 1940-1965) được đánh giá là một tác phẩm thi ca triết học tầm cỡ của thế giới.

Về đời tư, Anna Akhmatova chính thức có ba đời chồng. Người đầu tiên là nhà thơ Nikolay Gumilyov – họ có với nhau một đứa con sau này cũng trở thành một nhà khoa học nổi tiếng của nước Nga. Người chồng thứ hai là Vladimir Shileiko – nhà khoa học, nhà thơ. Người thứ ba là nhà sử học Nikolay Punin. Cuộc đời của nữ thi sĩ có lẽ đã có những thay đổi sau những lần gặp gỡ với bác sĩ Vladimir  Garshin, nhưng chuyện kể rằng trước ngày cưới, vị bác sĩ đã mơ thấy người mẹ đã quá cố của mình hiện về khóc lóc và van vỉ ông đừng cưới mụ phù thủy nên ông đã thay đổi sau đó, đi cưới cô y tá của mình. Sau nhiều thăng trầm trong cuộc đời cũng như trong tình yêu, những năm cuối đời vinh quang cũng mỉm cười với nữ sĩ. Năm 1965 và năm 1966 bà được đề cử trong danh sách xét giải Nobel Văn học. Năm 1964 bà được tặng giải Etna Taomina của Ý; năm 1965 bà được trao bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Oxford.

Ngoài thơ, Anna Akhmatova còn là dịch giả nổi tiếng, là tác giả của nhiều bài viết về Aleksandr Sergeyevich Pushkin và các nhà thơ đương thời. Anna Akhmatova được mệnh danh là “Bà chúa thơ tình Nga”. Ở các thành phố lớn của Nga và Ukraina có các bức tượng cũng như bảo tàng về Akhmatova. Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt.

Tác phẩm:
*Buổi chiều (Вечер, 1912), thơ
*Tràng hạt (Чётки, 1914), thơ
*Bầy trắng (Белая стая, 1917), thơ
*Xa tiền thảo (Подорожник, 1921), thơ
*Anno Domini MCMXXI, 1922, thơ
*Ngay bên biển (У самого моря, 1921), trường ca
*Bước chạy của thời gian (Бег времени, 1965), thơ
*Trường ca không nhân vật (Поэме без героя, 1940—1965, in đầy đ năm 1976), trường ca
*Khúc tưởng niệm (Реквием, 1935-40; in năm 1976), trường ca


 153 bài thơ




1. TÌNH YÊU

Tình như con rắn cuộn tròn
Trong sâu thẳm con tim làm phép thuật
Tình là bồ câu suốt ngày đêm
Bên cửa sổ gật gù khoan nhặt.

Tình là lấp lánh trong sương
Thuỷ dương mai trong mơ màng linh cảm…
Nhưng tình rất chân thành và bí ẩn
Đưa ta rời khỏi tĩnh lặng, hân hoan.

Tình là biết ngọt ngào, nức nở
Trong lời cầu nguyện của cây đàn.
Và thật khủng khiếp nhận ra tình
Trong nụ cười hãy còn xa lạ.
11-1911

Любовь

То змейкой, свернувшись клубком,
У самого сердца колдует,
То целые дни голубком
На белом окошке воркует,

То в инее ярком блеснет,
Почудится в дреме левкоя...
Но верно и тайно ведет
От радости и от покоя.

Умеет так сладко рыдать
В молитве тоскующей скрипки,
И страшно ее угадать
В еще незнакомой улыбке.
1911


2. EM MUỐN CHO ANH KHÔNG HỀ LẶNG LẼ

Em muốn cho anh không hề lặng lẽ
Làm người mạnh mẽ, ra vẻ yếu hèn.
Muốn gọi anh là tình yêu của mình
Bởi vì sống khác thì em không thể.

Em muốn tất cả suy nghĩ của anh
Sẽ lấy cắp, ít nhất là một nửa.
Em muốn đột nhiên trong đầu anh nghĩ
Mình hạnh phúc, mà có lỗi là em.

Em muốn trong từng mơ ước của mình
Anh sẽ trở thành đường biên duy nhất.
Muốn trong cuốn sách mà anh đang đọc
Làm trang đầu tiên và trang cuối cùng.

Хочу тебе покоя не давать

Хочу тебе покоя не давать,
Быть сильной, оставаться слабой.
Хочу тебя своей любовью звать,
Ведь я иначе жить и не могла бы.

Хочу из всех твоих забот и дум
Украсть, по крайней мере, половину.
Хочу, что б вдруг тебе пришло на ум,
Что счастлив ты, и в этом я повинна.

Хочу, чтоб для любой моей мечты
Ты был единственной границей.
Хочу в той книге, что читаешь ты,
Быть первой и последнею страницей.


3. HOẶC LÀ EM VẪN LẠI VỚI ANH

Hoặc là em vẫn lại với anh
Hoặc là anh sẽ ra đi cùng em
Nhưng điều này không diễn ra như thế
Thì chia tay nhé thiên thần của em!

Không tiếng thở dài mệt mỏi buồn thương
Không lời trách móc cầu kỳ rắc rối
Mà em sợ sự khinh hoàng tăm tối
Ánh nhìn rõ ràng sáng sủa của anh.
1909

То ли я с тобой осталась

То ли я с тобой осталась,
То ли ты ушел со мной,
Но оно не состоялось,
Разлученье, ангел мой!

И не вздох печали томной,
Не затейливый укор,
Мне внушает ужас темный
Твой спокойный ясный взор.
1909


4. CON NGƯỜI TA THƯỜNG NHÌN NHAU RA SAO

Con người ta thường nhìn nhau ra sao
Tôi không mệt mỏi ngắm nhìn, đ ý
Trong đôi mắt này bão tố thét gào
Trong đôi mắt kiahằng phúc của Chúa.

Tôi đi xe buýt, ngồi bên cửa sổ
Nhìn mắt người ta một cách rụt rè
Trong đôi mắt này sức hút của mèo
Trong đôi mắt kiacơn giông mùa hạ

Trong đôi mắt này ghen tuông ầm ĩ
Trong đôi mắt kia – là khả năng tin
Mắt người này – xấu hổ vì nghèo hèn
Mắt người kia – không tỏ ra giàu có.

Không quan trọng chiếc váy kia có giá…
Trang phục thì giấu sự thật được đâu
Quan trọng hơn là hành vi với nhau
Và những gì sau ánh nhìn thùy mị…

Trong mắt người luôn có đầy căng thẳng
Đầy mảnh vỡ những mơ ước màu hồng…
Trong mắt này – số phận chẳng hề mong
Trong mắt kia – vẻ đẹp xinh đủ hạng…

Trong đôi mắt này cứu độ, nâng lên…
Trong mắt kia – dìm không còn dấu vết
Đôi mắt này – ôm lấy cả thế gian
Trong mắt kia – không nước mắt, mà nước…

Ghé cạnh ngôi nhà của tôi, xe buýt…
Những cánh cửa đã được mở toang ra…
Có biết bao nhiêu điều tôi đọc được
Qua nửa giờ trong mắt của người ta…

Как люди смотрят друг на друга

Как люди смотрят друг на друга –
Я не устану наблюдать…
В одних глазах шипела вьюга,
В других – Господня благодать…

А я в маршрутке у окошка
Смотрю с опаскою в глаза…
В одних глазах харизма кошки,
В других – июльская гроза…

В одних глазах грохочет ревность,
В других – способность доверять…
В  одних глазах стеснялась бедность,
В других – богатства не объять…

Неважно сколько стоит юбка…
Не сможет правду скрыть наряд…
Важней всегда цена поступка
И то, что прячет кроткий взгляд…

В глазах людей – избытки стресса,
Осколки радужной мечты…
В одних – судьба без интереса,
В других – разряды красоты…

Одни глаза спасут, поднимут…
Другие – топят без следа…
Одни – собой весь мир обнимут,
В других – не слёзы, а вода…

Маршрутка к дому подъезжала…
Открылись двери нараспах…
А я так много прочитала
За полчаса в людских глазах…



5. LỄ MAI TÁNG

Em đi tìm một chỗ cho ngôi mộ
Chị biết nơi nào sáng sủa hơn không?
Thật lạnh lẽo trên đồng. Còn đống đá
Bên biển kia thì buồn bã thê lương.

Mà chị vốn quen với sự lặng yên
Và vốn yêu ánh mặt trời sáng sủa
Em sẽ xây một trai phòng trên đó
Như ngôi nhà mình cho rất nhiều năm.

Ở giữa cửa sổ có một cửa con
Và ta sẽ thắp ngọn đèn trong đó
Có vẻ như con tim rất tăm tối
Đang cháy lên bằng ánh lửa màu hồng.

Chị biết không, chị đã từng mơ màng
Về một cõi thiên đường, về cõi khác
Nhưng vị tu sĩ nói lời quở trách:
“Thiên đường không cho những kẻ lỗi lầm”

Thì khi đó, cảm thấy nhói trong lòng
Em thầm thì: “Em sẽ đi với chị”.
Ta bây giờ cứ mặc cho phận số
Sẽ nằm dưới chân ngọn sóng màu lam.
1911
_____________
*Bài thơ này về cái chết của người chị gái là Inna Gorenko mất năm 1906.

Похороны

Я места ищу для могилы,
Не знаешь ли, где светлей?
Так холодно в поле. Унылы
У моря груды камней.

А она привыкла к покою
И любит солнечный свет,
Я келью над ней построю,
Как дом наш на много лет.

Между окнами будет дверца,
Лампадку внутри зажжем,
Как будто темное сердце
Алым горит огнем.

Она бредила, знаешь больная,
Про иной, про небесный край,
Но сказал монах, укоряя:
"Не для вас, не для грешных рай".

И тогда, побелев от боли,
Прошептала: "Уйду с тобой".
Вот одни мы теперь, на воле,
И у ног голубой прибой.
1911


6. LẦN CUỐI CHÚNG TÔI GẶP NHAU KHI ĐÓ

Lần cuối chúng tôi gặp nhau khi đó
Bên bờ sông, nơi thường vẫn gặp nhau
Nước sông Nê va đã từng dâng cao
Và trong thành phố người ta sợ lũ.

Anh đi nói về mùa hè, và nữa
Rằng phụ nữ làm thơ – thật điên rồ
Tôi nhớ ngôi nhà Sa hoàng cao vòi vọi
Và Pháo đài Thánh Phêrô với Phaolô.

Sau đó không khí hoàn toàn khác hẳn
Kỳ diệu như quà tặng của Chúa Trời
Và tôi được trao trong giờ phút này
Một bài ca từ những bài điên loạn.
1914

В последний раз мы встретились тогда

В последний раз мы встретились тогда
На набережной, где всегда встречались.
Была в Неве высокая вода,
И наводненья в городе боялись.

Он говорил о лете и о том,
Что быть поэтом женщине - нелепость.
Как я запомнила высокий царский дом
И Петропавловскую крепость –

Затем, что воздух был совсем не наш,
А как подарок Божий - так чудесен,
И в этот час была мне отдана
Последняя из всех безумных песен.
1914


7. EM BỎ LẠI KHU VƯỜN

Em bỏ lại khu vườn, ngôi nhà trắng của anh
Cuộc đời rồi đây sẽ hoang vu và sáng sủa
Em sẽ ca ngợi anh trong thơ của mình
Dù phụ nữ đi ngợi ca thì không hề dễ.
Anh sẽ nhớ người bạn gái mà anh yêu quí
Dựng trong mắt người ta một cõi thiên đường
Còn em sẽ làm người đi buôn hàng xa xỉ -
Đem bán sự dịu dàng và tình yêu của anh.
1913

Твой белый дом и тихий сад оставлю

Твой белый дом и тихий сад оставлю.
Да будет жизнь пустынна и светла.
Тебя, тебя в моих стихах прославлю,
Как женщина прославить не могла.
И ты подругу помнишь дорогую
В тобою созданном для глаз ее раю,
А я товаром редкостным торгую --
Твою любовь и нежность продаю
1913
  



8. XẾP LẠI NHỮNG ƯỚC MƠ

Xếp lại những ước mơ, mệt vì bao ý tưởng
Em đợi mùa đông như người khác vẫn chờ.
Anh từng hứa hẹn rằng trời sẽ không mưa?
Vậy mà mưa vẫn ào ào trút xuống

Em ngạc nhiên nhìn ra từ cửa sổ
Đang trong mơ hay đời thực thế này?
Anh từng nói rằng đời là giấc ngủ?
Em tỉnh dậy, thấy lạ lùng, vẫn sống đây…

Rồi mai em lại đóng vai của mình
Lại cười lên dù không hề đúng chỗ
Anh từng nói rằng yêu là đau khổ?!
Anh nhầm rồi, tình là Địa ngục mà anh…

Отодвинув мечты и устав от идей

Отодвинув мечты и устав от идей,
Жду зимы как другие не ждут.
Помнишь, ты обещал, что не будет дождей?
А они всё идут и идут…

Удивлённо смотрю из квартирных окон-
Я во сне или всё ж наяву?
Помнишь, ты говорил, что вся жизнь – это сон?
Я проснулась, и странно, живу…

А назавтра опять мне играть свою роль,
И смеяться опять в невпопад.
Помнишь, ты говорил, что любовь – это боль?!
Ты ошибся, любовь – это ад…


9. GỬI NÀNG THƠ

Nàng Thơ - chị ngó nhìn vào gương mặt
Ánh mắt Nàng Thơ cuồng nhiệt, rõ ràng
Và Nàng Thơ lấy đi chiếc nhẫn vàng
Là quà tặng của mùa xuân thứ nhất.

Tất cả đều hạnh phúc, ngươi thấy không
Những kẻ goá chồng, phụ nữ và con gái
Thà tôi chết dưới bánh xe còn hơn
Là chịu đựng cảnh gông xiềng như vậy.

Tôi biết rằng khi mà tôi ước đoán
Bứt cánh hoa cúc đằm thắm dịu dàng
Sống trên mặt đất này, có phải chăng
Mỗi con người phải nếm tình đau đớn.

Trên cửa sổ tôi thắp lên ngọn nến
Không về ai tôi còn cảm thấy buồn
Nhưng mà có một điều tôi không muốn
Người ta hôn kẻ khác, ngươi biết không.

Mai trong gương người ta sẽ cười tôi:
“Ánh mắt ngươi không rõ ràng, cuồng nhiệt…”
Tôi trả lời: “Nàng Thơ đã tước mất
Đã lấy đi quà tặng của Chúa Trời”.
1911

Музе

Муза-сестра заглянула в лицо,
Взгляд ее ясен и ярок.
И отняла золотое кольцо,
Первый весенний подарок.

Муза! ты видишь, как счастливы все —
Девушки, женщины, вдовы...
Лучше погибну на колесе,
Только не эти оковы.

Знаю: гадая, и мне обрывать
Нежный цветок маргаритку.
Должен на этой земле испытать
Каждый любовную пытку.

Жгу до зари на окошке свечу
И ни о ком не тоскую,
Но не хочу, не хочу, не хочу
Знать, как целуют другую.

Завтра мне скажут, смеясь, зеркала:
«Взор твой не ясен, не ярок...»
Тихо отвечу: «Она отняла
Божий подарок».
1911


10. BÀI CA CỦA LẦN GẶP CUỐI CÙNG

Ngực buốt giá không làm sao ấm lại
Nhưng bước chân vẫn cứ nhẹ như không
Bàn tay phải của em đã xỏ nhầm
Vào chiếc găng tay của bàn tay trái.

Đã hiện ra nhiều bậc thang trước mắt
Thế mà em thì chỉ biết có ba
Giữa những cây phong tiếng xào xạc mùa thu
Anh bảo em: “Cùng với anh hãy chết!

Anh bị lừa bởi ba đào số kiếp
Hay đổi thay, ác nghiệt, hãy đau buồn”.
Em trả lời: “Hỡi người em yêu thương
Em cũng vậy. Cùng với anh sẽ chết!”

Đây bài ca của lần gặp cuối cùng
Em nhìn vào ngôi nhà màu tối sẫm
Chỉ những ngọn nến đang cháy trong buồng
Bằng ngọn lửa màu vàng rất lãnh đạm.
1911

Песня последней встречи

Так беспомощно грудь холодела,
Но шаги мои были легки.
Я на правую руку надела
Перчатку с левой руки.

Показалось, что много ступеней,
А я знала - их только три!
Между кленов шепот осенний
Попросил: "Со мною умри!

Я обманут моей унылой
Переменчивой, злой судьбой".
Я ответила: "Милый, милый -
И я тоже. Умру с тобой!"

Это песня последней встречи.
Я взглянула на темный дом.
Только в спальне горели свечи
Равнодушно-желтым огнем.
1911 




11. EM THẤY VUI CÙNG ANH KHI SAY

Em thấy vui cùng anh khi anh say
Những câu chuyện của anh đều vô nghĩa.
Mùa thu sớm đã trải ra trên cây
Những lá cờ màu vàng khắp mọi phía.

Hai ta lạc vào xứ sở dối gian
Ta lạc vào rồi đắng cay hối tiếc
Nhưng tại sao bằng nụ cười lạ lùng
Và cứng đờ ta mỉm cười không biết?

Cả hai ta muốn đau khổ xót thương
Thay cho niềm hạnh phúc êm ả…
Và em sẽ không bao giờ từ giã
Người bạn của em nông nổi, dịu dàng.
1911

Мне с тобою пьяным весело

Мне с тобою пьяным весело -
Смысла нет в твоих рассказах.
Осень ранняя развесила
Флаги желтые на вязах.

Оба мы в страну обманную
Забрели и горько каемся,
Но зачем улыбкой странною
И застывшей улыбаемся?

Мы хотели муки жалящей
Вместо счастья безмятежного...
Не покину я товарища
И беспутного и нежного.
1911


12. SỰ ÂU YÊM BÂY GIỜ ANH ĐỪNG LẪN

Sự âu yếm bây giờ anh đừng lẫn
Với một điều gì, nó rất dịu êm.
Anh phí uổng quấn vào rất cẩn thận
Lông thú lên vai, lên ngực cho em.
Và phí hoài những lời rất ngoan ngoãn
Anh nói với em về một mối tình
Em rất biết những ánh mắt kiên nhẫn
Những cái nhìn rất khao khát của anh!
1913

Настоящую нежность не спутаешь

Настоящую нежность не спутаешь
Ни с чем, и она тиха.
Ты напрасно бережно кутаешь
Мне плечи и грудь в меха.
И напрасно слова покорные
Говоришь о первой любви,
Как я знаю эти упорные
Несытые взгляды твои!
1913


13. MỘT BÀI CA

Trong ánh bình minh
Về tình yêu em hát
Và ngồi xuống trong vườn
Rau lê em nhặt.

Em nhổ và em vứt –
Người ta sẽ tha thứ cho em.
Em thấy cô bé chân đất
Đang ngồi khóc bên thềm.

Em sợ những tiếng gào
Giọng của rủi ro tội nghiệp
Và thấy nồng nặc làm sao
Mùi của rau lê đã chết.

Đá sẽ thay cho bánh mà thôi
Đối với em là phần thưởng.
Trên đầu em chỉ có trời
Còn với em giọng anh văng vẳng.
3-1911

Песенка
Я на солнечном восходе
Про любовь пою,
На коленях в огороде
Лебеду полю.

Вырываю и бросаю -
Пусть простит меня.
Вижу, девочка босая
Плачет у плетня.

Страшно мне от звонких воплей
Голоса беды,
Все сильнее запах теплый
Мертвой лебеды.

Будет камень вместо хлеба
Мне наградой злой.
Надо мною только небо,
А со мною голос твой.
1911


14. EM ĐÃ KHÓC RẤT NHIỀU VÀ HỐI HẬN

Em đã khóc rất nhiều và hối hận
Dù giữa bầu trời tiếng sấm vang lên!
Con tim tối tăm của em đau đớn
Trong ngôi nhà hoang vắng của anh.

Em biết rằng nỗi đau không chịu hết
Trên đường về thật xấu hổ làm sao
Đến với người không yêu thật khủng khiếp
Khủng khiếp thay nhà hoang vắng bước vào.

Em mặc đẹp, bên người ta cúi xuống
Chuỗi hạt cườm đeo trên cổ ngân vang
Người chỉ hỏi: “Hỡi người em yêu mến
Ở nơi nào em cầu nguyện cho anh?”
1911

Я и плакала и каялась

Я и плакала и каялась,
Хоть бы с неба грянул гром!
Сердце темное измаялось
В нежилом дому твоем.

Боль я знаю нестерпимую,
Стыд обратного пути...
Страшно, страшно к нелюбимому,
Страшно к тихому войти,

А склонюсь к нему нарядная,
Ожерельями звеня;
Только спросит: «Ненаглядная!
Где молилась за меня?»
1911


15. HÃY CẦU NGUYỆN

Hãy cầu nguyện cho kẻ nghèo, đã mất
Cho tâm hồn đang còn sống của em
Anh luôn tin tưởng trên đường của mình
Nguồn ánh sáng trong túp lều không tắt.

Và anh là người em đau khổ cám ơn
Về cái điều sau này em sẽ kể
Cái đêm say mê đã hành hạ em
Và buổi sáng đã thở bằng băng giá.

Trong đời này em thấy đâu có nhiều
Em chỉ hát và em chỉ đợi.
Em biết rằng em không ghét anh trai
Và chị gái em không hề phản bội.

Thì tại sao Chúa lại trừng phạt em
Cứ mỗi ngày, cứ mỗi giờ như vậy?
Hay đấy là thiên thần chỉ cho em
Nguồn ánh sáng mà ta không nhìn thấy?
5-1912

Помолись о нищей, о потерянной

Помолись о нищей, о потерянной,
О моей живой душе,
Ты, всегда в своих путях уверенный,
Свет узревший в шалаше.

И тебе, печально-благодарная,
Я за это расскажу потом,
Как меня томила ночь угарная,
Как дышало утро льдом.

В этой жизни я немного видела,
Только пела и ждала.
Знаю: брата я не ненавидела
И сестры не предала.

Отчего же Бог меня наказывал
Каждый день и каждый час?
Или это ангел мне указывал
Свет, невидимый для нас?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét